Giỏ hàng
[Bài dịch] Thế giới sẽ thế nào sau đại dịch Corona?

[Bài dịch] Thế giới sẽ thế nào sau đại dịch Corona?

Người dịch: Đinh Nho Minh

Bài gốc: How the World Will Look After the Coronavirus Pandemic

Đại dịch này sẽ thay đổi thế giới vĩnh viễn. Foreign Policy đã mời 12 học giả hàng đầu thế giới đưa ra nhận định của mình.

Nguồn ảnh: Foreign Policy

Giống như sự sụp đổ của bức tường Berlin (dẫn đến kết thúc Chiến tranh Lạnh) hay của tập đoàn Lehman Brothers (dẫn đến khủng hoảng tài chính năm 2008), đại dịch corona là sự kiện gây chấn động thế giới với nhiều hậu quả sâu rộng mà ta mới chỉ hiểu được một phần.

Tuy nhiên, có một điều là chắc chắn: ngoài việc gây thương vong, nhiễu loạn thị trường và bộc lộ năng lực (hoặc sự yếu kém) của các chính phủ, đại dịch này sẽ tạo nên những dịch chuyển vĩnh viễn về quyền lực chính trị và kinh tế mà chỉ tương lai mới giải đáp hết được.

Để làm rõ hơn những biến chuyển động trời này, Foreign Policy đã mời 12 học giả hàng đầu của thế giới để đưa ra dự doán về trật tự toàn cầu sau đại dịch.

1. Stephen M. Walt: Một thế giới đóng cửa, kém phồn vinh và ít tự do hơn

Đại dịch sẽ củng cố sức mạnh của nhà nước và chủ nghĩa dân tộc. Mọi chính phủ sẽ áp dụng các biện pháp khẩn cấp để quản trị khủng hoảng, nhưng nhiều người sẽ không chịu buông những quyền lực mới này khi khủng hoảng đã kết thúc.

COVID-19 sẽ đẩy nhanh sự chuyển dịch quyền lực từ phương Tây sang phương Đông. Hàn Quốc và Singapore đã phản ứng với đại dịch tốt nhất, còn Trung Quốc đã kịp cải thiện phản ứng sau những sai lầm ban đầu. Trong khi đó, phản ứng từ Châu Âu và Hòa Kỳ là chậm và thiếu tổ chức, góp phần phá vỡ hình tượng phương Tây.

Tuy nhiên, bản chất xung đột của chính trị quốc tế sẽ không thay đổi. Các đại dịch trước đây, như đại dịch cúm Tây Ban Nha năm 1918-1919, không kết thúc cạnh tranh đại cường cũng như mở đầu kỉ nguyên hợp tác quốc tế. COVID-19 cũng sẽ như vậy. Chúng ta sẽ chứng kiến quá trình đảo ngược của siêu toàn cầu hóa ngày một mạnh hơn, khi người dân trông chờ chính phủ bảo vệ họ trong khi các quốc gia và công ty thì tìm cách giảm thiểu các điểm yếu cho tương lai.

Nói tóm lại, COVID-19 sẽ tạo ra một thế giới đóng cửa hơn, kém phồn vinh hơn, và ít tự do hơn. Mọi chuyện có thể đã khác nhưng sự kết hợp giữa một loại virus chết người, thiếu sót trong chuẩn bị, và lãnh đạo yếu kém đã đẩy loài người vào một tương lai mới đầy lo âu.

Stephen M. Walt là Giáo sư Quan hệ Quốc tế tại Robert and Renée Belfer Center for Science and International Affairs, thuộc Đại học Harvard.

2. Robin Niblett: Sự cáo chung của toàn cầu hóa 

Đại dịch corona có thể là giọt nước tràn ly chấm dứt toàn cầu hóa kinh tế. Sức mạnh kinh tế và quân sự ngày càng lớn của Trung Quốc khiến Hoa Kỳ quyết tâm chặn Trung Quốc tiếp cận các nguồn công nghệ cao và tài sản trí tuệ của mình, cũng như ép đồng minh làm điều tương tự. Sức ép công luận và chính trị ngày một tăng cao nhằm đạt mục tiêu cắt giảm khí thải CO2 đã đặt chuỗi cung ứng toàn cầu của các công ty vào tầm ngắm. Ngay lúc này, COVID-19 đang buộc các chính phủ, các công ty và mọi xã hội phải tăng cường khả năng thích nghi với thời gian “bế quan toả cảng” kinh tế trường kỳ. 

Trong bối cảnh hiện nay, nhiều khả năng thế giới sẽ không đi theo lý tưởng toàn cầu hóa đa lợi ích, lý tưởng đã định hình đầu thế kỷ này. Và nếu không có lợi ích trong việc bảo vệ thành quả chung từ hợp tác kinh tế toàn cầu, các thiết chế hợp tác kinh tế (IMF, WTO, World Bank)  từ thế kỉ 20 sẽ nhanh chóng sụp đổ. Nếu vậy, các lãnh đạo thế giới sẽ phải hết sức kiềm chế để tiếp tục hợp tác toàn cầu và tránh cạnh tranh địa chính trị lộ liễu.

Các nhà lãnh đạo có thể chứng minh được khả năng quản trị khủng hoảng COVID-19 sẽ có thêm quyền lực chính trị. Nhưng những ai thất bại trong quản lý khủng hoảng sẽ khó cưỡng lại việc đổ lỗi cho người khác.

Robin Niblett là giám đốc điều hành của Chatham House.

3. Kishore Mahbubani: Toàn cầu hóa mang màu sắc Trung Quốc hơn

Đại dịch COVID-19 về cơ bản sẽ không thay đổi xu hướng kinh tế toàn cầu. Nó sẽ chỉ đẩy nhanh sự chuyển dịch từ toàn cầu hóa xoay quanh Hoa Kỳ thành toàn cầu hóa xoay quanh Trung Quốc.

Tại sao xu hướng này sẽ tiếp tục? Người dân Mỹ đã mất niềm tin và toàn cầu hóa và thương mại quốc tế. Các hiệp định thương mại tự do (FTA) vẫn gây tranh cãi dù Trump có là tổng thống hay không. Trong khi đó, Trung Quốc vẫn còn nguyên động lực. Vì sao? Nguyên nhân nằm ở yếu tố lịch sử. Các lãnh đạo Trung Quốc hiểu rõ “Bách niên Quốc sỉ” từ 1842-1949 là hậu quả của việc tự mãn và những nỗ lực vô vọng nhằm tìm cách cô lập nước này khỏi thế giới. Trong khi đó, sự trỗi dậy về kinh tế của Trung Quốc trong vài thập kỷ vừa rồi là nhờ mở rộng hợp tác với thế giới. Sự tự tin về văn hoá của người Trung Quốc cũng đang trở lại. Họ tin rằng họ có thể cạnh tranh ở bất cứ nơi đâu.

Vì vậy, như tôi đã viết trong cuốn sách mới xuất bản Has China Won?, Hoa Kỳ có hai lựa chọn. Nếu mục tiêu chính của Hoa Kỳ là giữ bảo vệ vị trí siêu cường số một, họ sẽ phải bước vào cuộc cạnh tranh địa chính trị “một mất một còn” (zero-sum), cả về chính trị lẫn kinh tế với Trung Quốc. Tuy nhiên, nếu mục tiêu của Hoa Kỳ là cải thiện mức sống của người dân Mỹ, vốn đã đang tệ đi, thì Hoa Kỳ nên hợp tác với Trung Quốc. Những lời khuyên sáng suốt sẽ nói hợp tác là lựa chọn tốt hơn. Tuy nhiên, với môi trường chính trị đầy thù địch với Trung Quốc, những lời khuyên này có lẽ sẽ bị bỏ ngoài tai.

Kishore Mahbubani là Nghiên cứu viên cao cấp tại Viện nghiên cứu Châu Á của trường ĐH quốc gia Singapore, tác giả cuốn Has China Won? The Chinese Challenge to American Primacy.

4. G. John Ikenberry: Các nền dân chủ sẽ phải tự đổi mới

Về ngắn hạn, khủng hoảng này sẽ tiếp thêm đạn cho tất cả các phe trong cuộc tranh luận về đại chiến lược phương Tây. Phe chủ nghĩa dân tộc, phe chống toàn cầu hóa, phe diều hâu chống Trung Quốc, và cả những người ủng hộ tự do quốc tế đều có thêm bằng chứng từ cuộc khủng hoảng này để củng cố luận điểm của nhóm mình. Tuy nhiên, với thiệt hại kinh tế và sự sụp đổ xã hội đang xảy ra, khó mà thấy được viễn cảnh nào ngoài sự gia tăng chủ nghĩa dân tộc, cạnh tranh nước lớn, phân ly chiến lược, v.v...

Tuy nhiên, cũng như những năm 1930 và năm 1940, sẽ có những làn sóng ngầm chống lại xu thế hiện nay, giống như chủ nghĩa quốc tế tỉnh táo mà Franklin D. Roosevelt (FDR) và các lãnh đạo khác đã hình thành trước và trong Thế chiến Thứ hai. Sự sụp đổ của nền kinh tế thế giới vào thập niên 1930 cho thấy xã hội hiện đại liên kết đến mức nào, cũng như dễ bị tổn thương đến mức nào với cái mà FDR gọi là “sự lây nhiễm”. Hoa Kỳ không bị đe dọa nhiều bởi các cường quốc khác bằng sự hiện đại hóa, là nhân tố  kiểu “Bác sĩ Jekyll và Ông Hyde”. Điều mà FDR và những người theo chủ nghĩa quốc tế khác đã gây dựng nên là một trật tự hậu chiến có thể tái thiết một hệ thống tự do, với những thiết chế mới để quản trị liên kết thế giới. Hậu chiến, Hoa Kỳ không thể trốn ở trong lãnh thổ của mình, nhưng để tồn tại trong một trận tự hậu chiến rộng mở yêu cầu việc xây dựng cơ sở hạ tầng hợp tác đa phương.

Ngày nay, Hoa Kỳ và các nền dân chủ phương Tây khác có thể sẽ đi qua quá trình tương tự như những năm 1930; có thể chủ nghĩa dân tộc sẽ mạnh lên, nhưng về lâu dài, các nền dân chủ sẽ phải tự đổi mới để tìm một chủ nghĩa quốc tế thực dụng và vững chắc  hơn.

G. John Ikenberry là Giáo sư Chính trị và Quan hệ quốc tế tại ĐH Princeton (Mỹ).

5. Shannon K. O’Neil: Ít lợi nhuận nhưng ổn định hơn

COVID-19 đang làm xói mòn các trụ cột của hệ thống sản xuất toàn cầu. Các công ty giờ sẽ phải xét lại và đơn giản hóa chuỗi cung ứng đa quốc gia rườm rà nhiều bước mà lâu nay vẫn thống trị hệ thống sản xuất.

Trước khi cuộc khủng hoảng nổ ra hệ thống cung ứng toàn cầu đã bị chỉ trích về mặt kinh tế do giá cả nhân công Trung Quốc gia tăng, chiến tranh thương mại của Tổng thống Donald Trump, và những tiến bộ trong công nghệ robot, tự động hóa, và in 3D; cũng như về mặt chính trị do mất công ăn việc làm, đặc biệt là ở các nền kinh tế phát triển. COVID-19 đang phá nhiều mối liên kết này: nhà máy đóng cửa ở các vùng dịch đã khiến các nhà máy khác, cũng như bệnh viện, cửa hàng thuốc, siêu thị, và cửa hàng bán lẻ, thiếu dụng cụ và hàng hóa.

Nhìn vào mặt tích cực, sẽ ngày càng nhiều công ty đòi được biết chuỗi cung ứng của mình đến từ đâu, và sẽ đánh đổi hiệu suất lấy dự phòng. Chính phủ cũng sẽ can thiệp, buộc các ngành công nghiệp chiến lược phải có kế hoạch đề phòng và nguồn dự trữ. Lợi nhuận sẽ giảm, nhưng nguồn cung sẽ ổn định hơn.

Shannon K. O'Neil là nghiên cứu viên cao cấp về Mỹ Latinh học ở Council Foreign Relatiosn và là tác gỉa của cuốn Two nations Indivisible: Mexico, the United States, and the Road Ahead.

6. Shivshankar Menon: Khủng hoảng này vẫn có thể có lợi 

Khủng hoảng vẫn đang ở giai đoạn sơ khai, nhưng có ba điều là chắc chắn. Đầu tiên, dịch bệnh corona sẽ thay đổi chính trị cả trong nước và quốc tế. Trong nước, mọi thành phần xã hội, kể cả phe tự do cá nhân, đang trông cậy vào sức mạnh của chính phủ. Sự thành công hoặc thất bại của chính phủ trong việc giải quyết đại dịch và ảnh hưởng kinh tế sẽ gia tăng hoặc giảm bớt vấn đề an ninh và phân cực xã hội. Dù gì đi nữa, thì chính phủ đang mạnh lên. Kết quả tới giờ cho thấy các chính phủ độc tài hoặc dân túy cũng không xử lý đại dịch tốt hơn. Trên thực tế, những nước phản ứng sớm và thành công trước đại dịch như Hàn Quốc và Đài Loan đều là nước dân chủ, chứ không có lãnh đạo dân túy hoặc độc tài.

Thứ hai, đây vẫn chưa phải là hồi kết của một thế giới liên kết. Đại dịch là bằng chứng của sự lệ thuộc lẫn nhau của chúng ta. Nhưng ở nhiều nước, hiện đang có xu thế đóng cửa, đòi tự trị và độc lập. Chúng ta đang hướng tới một thế giới nghèo hơn, ác nghiệt hơn, và nhỏ bé hơn.

Tuy nhiên, vẫn có tia hy vọng và sự tỉnh táo. Ấn Độ đã đề xuất tổ chức một cuộc hội nghị trực tuyến giữa các lãnh đạo Nam Á để phối hợp giải quyết khủng hoảng trong khu vực. Nếu đại dịch này là cú sốc đủ lớn để khiến chúng ta nhận ra giá trị của việc hợp tác đa phương trong các vấn đề toàn cầu lớn mà tất cả đang phải đối mặt thì nó cũng hữu ích.

Shivshankar Menon là Nghiên cứu viên Cao cấp tại Viện Brookings ở Ấn Độ, cựu Cố vấn an ninh Quốc gia cho Thủ tướng Ấn Độ Manmohan Singh, và Giáo sư thỉnh giảng tại Đại học Ashoka, Ấn Độ.

7. Joseph S. Nye, Jr.: Hoa Kỳ cần một chiến lược mới

Năm 2017, Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump công bố chiến lược an ninh quốc gia mới tập trung vào cạnh tranh siêu cường. COVID-19 đã cho thấy chiến lược này vẫn còn thiếu sót. Kể cả khi đánh bại được cường quốc còn lại, Hoa Kỳ cũng không thể tự đảm bảo an ninh bằng cách hành động một mình. Như Cựu Bộ trưởng Hải quân Hoa Kỳ Richard Danzig đã nói vào năm 2018: “Công nghệ của thế kỷ 21 không chỉ có quy mô toàn cầu, mà còn có tác động toàn cầu. Mầm bệnh, các hệ thống trí tuệ nhân tạo, virus máy tính, và phóng xạ mà ai đó vô tình phát tán ở nơi khác cũng có thể trở thành vấn đề của chúng ta. Vì vậy chúng ta cần hệ thống cảnh báo chung, kiểm soát chung, kế hoạch khủng hoảng chung, cùng các chuẩn tắc ứng xử, và hiệp ước để kiểm soát các mối đe dọa chung này.”

Với những mối đe dọa xuyên đa quốc gia như COVID-19 và biến đổi khí hậu, chỉ sử dụng sức mạnh của Hoa Kỳ để gây sức ép lên các quốc gia khác là chưa đủ. Chìa khóa thành công là sức mạnh khi hợp tác với các nước khác. Mỗi nước đều đặt lợi ích của mình lên trước tiên; câu hỏi quan trọng là lợi ích này được định nghĩa rộng hay hẹp đến mức nào. COVID-19 cho thấy chúng ta đang thất bại trong việc điều chỉnh chiến lược để thích nghi với thế giới mới này.

Joseph S. Nye Jr. là Giáo sư Đại học Harvard và tác giả cuốn Do Morals Matter? Presidents and Foreign Policy from FDR to Trump.

8. John Allen: Lịch sử của COVID-19 sẽ được viết bởi những kẻ thắng cuộc

Như mọi cuộc chiến, lịch sử sẽ được viết bởi những “kẻ thắng cuộc” trong cuộc khủng hoảng COVID-19. Tất cả mọi quốc gia, cũng như mọi cá nhân, đều đang cảm nhận sức ép mạnh mẽ của đại dịch này lên toàn xã hội. Dĩ nhiên, những nước sống sót qua đại dịch, nhờ có hệ thống kinh tế-chính trị độc nhất và y tế cộng đồng ưu việt, sẽ tuyên bố thành công hơn những nước chịu hậu quả khác biệt và nặng nề hơn. Với một số nước, đây sẽ là khúc khải hoàn tuyệt đối cho chủ nghĩa dân chủ, đa phương, và hệ thống chăm sóc sức khỏe phổ cập. Với một số nước khác, đại dịch này chứng minh “lợi ích” của chế độ cai trị chuyên chế đầy quyết đoán.

Dù gì đi nữa, cuộc khủng hoảng này sẽ gây xáo trộn hệ thống quyền lực quốc tế theo nhiều cách mà ta chưa thể hiểu hết. COVID-19 sẽ tiếp tục kìm hãm các hoạt động kinh tế và gia tăng căng thẳng giữa các nước. Về lâu dài, khả năng cao đại dịch này sẽ làm giảm đáng kể khả năng sản xuất của nền kinh tế toàn cầu, đặc biệt là nếu các doanh nghiệp phải đóng cửa và công nhân thì thất nghiệp. Mối nguy này đặc biệt hiện hữu với các nước đang phát triển cũng như những nước với nhiều lao động bấp bênh về kinh tế. Vì vậy, hệ thống quốc tế cũng sẽ chịu nhiều sức ép, gây ra bất ổn và xung đột trong và giữa các nước.

John Allen là Chủ tịch Viện Brookings, cựu Tướng Bốn sao trong Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ, cựu chỉ huy lực lượng đồng minh NATO và Hoa Kỳ ở Afghanistan (NATO International Security Assistance Force and US Forces in Afghanistan).

9. Laurie Garret: Một chương mới trong tư bản toàn cầu

Cú sốc lớn nhất đối với hệ thống tài chính kinh tế thế giới này xuất phát từ nhận thức rằng chuỗi cung ứng và phân phối toàn cầu dễ bị gián đoạn tới mức nào. Đại dịch corona vì vậy sẽ không chỉ gây hậu quả kinh tế lâu dài, mà còn tạo ra các chuyển biến căn bản. 

Toàn cầu hóa cho phép các công ty rải rác dây chuyền sản xuất của mình trên toàn thế giới và vận chuyển hàng hóa đến vừa đúng lúc, qua đó giảm chi phí lưu kho. Lâu nay chỉ cần lưu kho hàng hóa vài ngày thôi đã bị bị coi là thất bại của thị trường. Nguồn cung phải được phân phối và vận chuyển một cách có hệ thống khắp toàn cầu. COVID-19 đã cho thấy bệnh dịch không chỉ ảnh hưởng đến sự sống mà còn cả hệ thống giao hàng vừa kịp này.

Với sự mất mát lớn của thị trường tài chính kể từ tháng Hai, các công ty sẽ cân nhắc lại về mô hình giao hàng vừa kịp của mình và hệ thống sản xuất toàn cầu. Nó có thể mở ra chương mới hoàn toàn trong tư bản toàn cầu, khi các chuỗi cung ứng được đặt gần nhà hơn và có nhiều dự phòng hơn để đề phòng gián đoạn trong tương lai. Động thái này có thể cắt giảm lợi nhuận ngắn hạn của các công ty, nhưng sẽ nâng cao sức chịu đựng của cả hệ thống các trước khủng hoảng trong tương lai.

Laurie Garrett là là cựu Nghiên cứu viên cao cấp tại Council of Foreign Relations và tác giả của cuốn The World: A Brief Introduction, sắp được xuất bản vào tháng Năm bởi nhà sách Penguin.

10. Richard N. Haas: nhiều nhà nước thất bại hơn

“Vĩnh viễn” không phải là một từ mà tôi thích, giống như từ “ít” hoặc “không có gì”, song tôi nghĩ đại dịch corona sẽ khiến các chính phủ tập trung đối nội hơn trong một vài năm sắp tới. Tôi nghĩ nhiều nước sẽ cố tự chủ hơn trong một số lĩnh vực (và vì vậy sẽ dẫn tới phân ly) do mối đe dọa tới chuỗi cung ứng; phản đối nhập cư ồ ạt ngày một mạnh hơn; và mức độ cam kết yếu hơn trong đối phó với các vấn đề khu vực hoặc toàn cầu hơn (bao gồm biến đổi khí hậu), do các nước cần phải tập trung nguồn lực để tái thiết sau đại dịch và suy thoái kinh tế.

Tôi dự đoán nhiều nước sẽ khó hồi phục sau khủng hoảng, dẫn đến nhiều nhà nước suy yếu và nhiều nhà nước thất bại hơn. Khủng hoảng sẽ khiến quan hệ Mỹ-Trung tiếp tục xấu đi, và làm suy yếu tiến trình hội nhập ở Châu Âu. Nhìn vào mặt tốt thì chúng ta sẽ thấy hệ thống quản trị y tế cộng đồng toàn cầu được củng cố một chút. Tuy nhiên nhìn chung, một cuộc khủng hoảng bắt nguồn từ toàn cầu hóa sẽ làm giảm thay vì tăng cường động lực cũng như khả năng của các quốc gia trong việc đối mặt với tiến trình này.

11. Kori Schake: Hoa Kỳ đã trượt bài kiểm tra về khả năng lãnh đạo

Hoa Kỳ sẽ không còn được coi là lãnh đạo thế giới bởi lợi ích hẹp hòi và sự bất tài của chính quyền hiện giờ. Hậu quả toàn cầu của đại dịch này có thể đã được giảm thiểu nếu các tổ chức quốc tế để chia sẻ thông tin nhiều và sớm hơn, giúp các chính phủ có thêm thời gian để chuẩn bị và tập trung nguồn lực đến nơi cần nhất. Hoa Kỳ đã có thể lãnh đạo nỗ lực này, chứng minh rằng mặc dù họ làm vì lợi ích của họ, nhưng họ vẫn quan tâm đến lợi ích của các nước khác. Washington đã thất bại trong bài kiểm tra về khả năng lãnh đạo, và cả thế giới đang phải chịu hậu quả vì điều đó.

Kori Schake là Phó Giám đốc của Viện nghiên cứu quốc tế về chiến lược học (IISS).

12. Nicholas Burns: Ở mọi nước, chúng ta đều thấy sức mạnh của tinh thần loài người

Đại dịch COVID-19 là khủng hoảng toàn cầu lớn nhất tính của thế kỷ này. Ảnh hưởng và quy mô của nó là vô cùng to lớn. Khủng hoảng y tế cộng đồng này đe dọa toàn bộ 7,8 tỷ con người trên trái đất. Cuộc khủng hoảng về tài chính và kinh tế do nó gây ra có thể còn sâu rộng hơn cuộc Đại suy thoái năm 2008-2009. Chỉ riêng mỗi cuộc khủng hoảng đều có thể vĩnh viễn thay đổi hệ thống quốc tế và cán cân quyền lực hiện nay.

Cho đến giờ, các nỗ lực hợp tác quốc tế để chống khủng hoảng vẫn còn quá ít ỏi. Nếu Hoa Kỳ và Trung Quốc, hai cường quốc mạnh nhất thế giới, không thể ngừng tranh luận xem ai gây ra khủng hoảng và ai lãnh đạo hiệu quả hơn, thì uy tín của cả hai có thể bị sụt giảm nghiêm trọng. Nếu Liên minh Châu Âu không thể hỗ trợ có hệ thống cho 500 triệu người dân của họ, các chính phủ quốc gia thành viên có thể đòi lại quyền lực từ Brussels trong tương lai. Cũng như vậy ở Hoa Kỳ, điều quan trọng nhất là chính phủ liên bang phải có các biện pháp hiệu quả để đánh chặn cuộc khủng hoảng hiện nay.

Tuy nhiên, ở mọi nước đều có vô số các tấm gương tiêu biểu về sức mạnh của tinh thần loài người: từ bác sĩ, y tá, lãnh đạo chính trị, cho đến người dân thường thể hiện sự kiên cường, hiệu quả, và khả năng lãnh đạo. Những tấm gương này thắp hy vọng rằng loài người sẽ vượt qua được cuộc khủng hoảng vô tiền khoáng hậu này này.

Nicholas Burns là giáo sự tạo Đại học Harvard Kennedy School of Government, cựu Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ.

Nguồn: The Realist - Chính trị quốc tế từ góc nhìn hiện thực